dân số thế giới tăng nhanh đã
Trong bảng xếp hạng ECI 2022, Nhật Bản (2,27 điểm), Thụy Sĩ (2,17 điểm), Đức (1,96 điểm), Hàn Quốc (1,95 điểm) và Singapore (1,87 điểm) nằm trong tốp 5 các nước có mức tăng trưởng kinh tế được dự báo ổn định và nhanh nhất thế giới đến năm 2030. Trong 10 năm (2010-2020
Dựa vào hình 2 em hãy: - Xác định các khu vực trên thế giới có mật độ dân số trên 250 người /km 2 và các khu vực có mật độ dân số dưới 5 người/km 2. - Nêu một số ví dụ cụ thể để thấy hoàn cảnh tự nhiên hoặc kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới sự phân bố dân cư trên thế giới.
B. Già hóa dân số. C. Bùng nổ dân số. ( Giải thích : Nếu như bạn có học địa 7 rồi thì cũng đã được học qua về bài bùng nổ dân số rồi nhé , trong đó có ghi bùng nổ dân số xảy ra là do dân số tăng quá nhanh trong 1 thời gian ngắn ) D. Công nghiệp hóa.
Từ xưa, người ta đã tin rằng: hương thảo là biểu tượng cho lòng trung thành đồng thời có khả năng kết nối giữa 2 thế giới, có khả năng trừ tà ma, mang lại may mắn, bình an cho gia chủ. 4. Cách trồng cây hương thảo
Ngày 16/09/2022, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề "Ảnh hưởng của già hóa dân số đến phát triển kinh tế". Đây là một vấn đề ngày càng gây quan ngại ở Việt Nam, bởi vì tốc độ lão hóa quá
Kết quả Tổng điều tra dân số và Nhà ở năm 2019 (TĐT) do Tổng Cục Thống kê thực hiện cho thấy, dân số Việt Nam đã đạt mốc trên 96 triệu người. Tốc độ tăng dân số giai đoạn 2009-2019 thấp hơn so với giai đoạn 1999-2009 giúp Việt Nam giảm thứ bậc về quy mô dân số trên bản đồ dân số thế giới.
Trung Quốc có thể bước vào giai đoạn già hóa dân số nghiêm trọng. Ảnh minh họa. Tại buổi họp báo, ông Vương Hải Đông, Giám đốc Vụ Lão hóa của Ủy ban Y tế Trung Quốc, nêu rõ đặc điểm của sự già hóa tại nước này hiện nay là "số lượng lớn, tốc độ nhanh, chênh
Tròn 20 năm sau ngày ra mắt siêu xe đầu tiên của mình là chiếc CC8S, Koenigsegg đã giới thiệu 'hậu duệ tinh thần' của dòng xe này có tên CC850.
soraquamarc1985. Quá khứ, hiện tại và tương laiTốc độ tăng trưởngMật độ dân số2020 & lịch sửDự báoCác cột mốcTheo khu vựcTheo tôn giáoToàn thời gianBiểu đồ dân số thế giới quá khứ, hiện tại và tương lai Vào buổi bình minh của nông nghiệp, khoảng 8000 năm TCN, dân số thế giới chỉ có khoảng 5 triệu người. Trong khoảng thời gian 8000 năm cho đến đầu thế kỷ thứ 3 SCN, nó đã tăng lên 200 triệu người một số ước tính là 300 triệu hoặc thậm chí 600 triệu người với tốc độ tăng trưởng dưới 0,05% mỗi sự thay đổi to lớn đã xảy ra với cuộc cách mạng công nghiệp nó đã đưa toàn bộ lịch sử nhân loại sang một trang mới, đến khoảng năm 1804 dân số thế giới đã đạt mốc 1 tỉ người, con số 2 tỷ người đạt được chỉ trong vỏn vẹn 123 năm 1927, con số 3 tỷ chỉ trong vòng 32 năm cuối 1959, 4 tỷ người trong 15 năm 1974, và 5 tỷ người chỉ trong 13 năm 1987.Riêng trong thế kỷ 20, dân số thế giới đã tăng từ 1,65 tỷ lên 6 tỷ 1970, đã có khoảng một nửa số người trên thế giới như hiện tỷ lệ tăng trưởng giảm, hiện nay sẽ mất hơn 200 năm để tăng gấp Historical Estimates of World Population - US Census Bureau; The World at Six Billion, World Population, Year 0 to near stabilization - United Nations Population DivisionBiểu đồ tốc độ tăng dân số thế giới Dân số trên thế giới hiện nay 2020 đang tăng với tốc độ khoảng 1,05% / năm giảm từ 1,08% vào năm 2019. Sự thay đổi dân số trung bình hiện nay ước tính khoảng 80 triệu người mỗi độ tăng trưởng hàng năm đạt đỉnh điểm vào cuối những năm 1960, khi nó ở mức trên 2%. Tốc độ tăng đã giảm gần một nửa kể từ mức đỉnh 2,1%, đạt được vào năm số thế giới sẽ tiếp tục tăng trong thế kỷ 21, nhưng với tốc độ chậm hơn so với thời gian trước. Dân số trên thế giới đã tăng gấp đôi tăng 100% trong 40 năm từ năm 1959 3 tỷ đến năm 1999 6 tỷ. Người ta ước tính rằng sẽ mất thêm 40 năm để dân số thế giới tăng thêm 50% nữa, và sẽ đạt đến mốc 9 tỷ người vào năm dự báo mới nhất của Liên Hợp Quốc cho thấy dân số thế giới sẽ đạt 10 tỷ người trong năm số Dân số thế giới năm 2020 và lịch sửNămDân số% thay đổiThay đổiTuổitrung bìnhTỷ lệ sinhMật độ% dân thành thịDân thành dựng dựa trên dữ liệu của Phòng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp báo Dân số thế giớiNămDân số% thay đổiThay đổiTuổitrung bìnhTỷ lệ sinhMật độ% dân thành thịDân thành dựng dựa trên dữ liệu của Phòng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp cột mốc về dân số thế giới10 tỷ người 2057Liên Hợp Quốc dự báo dân số thế giới sẽ đạt 10 tỷ người trong năm tỷ người 2023Theo Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới dự kiến sẽ đạt 8 tỷ người vào năm 2023 năm 2026 theo Cơ quan điều tra dân số Hoa Kỳ.7,5 tỷ người 2017Dân số thế giới hiện nay là 7,5 tỷ người vào tháng 5 năm 2017 theo thống kê mới nhất của Liên Hợp Quốc. Thuật ngữ "Dân số Thế giới" ám chỉ dân số là con người tổng số người hiện đang sinh sống trên thế tỷ người 2011Theo Liên Hợp Quốc, dân số thế giới đã đạt 7 tỷ người vào ngày 31 tháng 10 năm 2011. Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ đưa ra ước tính thấp hơn, theo đó dân số của thế giới đạt được mức 7 tỷ người vào ngày 12 tháng 3 năm tỷ người 1999Theo Liên hợp quốc, con số 6 tỷ này đã đạt được vào ngày 12 tháng 10 năm 1999. Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ thay vào đó, 6 tỷ người đã đạt được vào ngày 22 tháng 7 năm 1999, vào khoảng 349 sáng cột mốc trước5 tỷ người 19874 tỷ người 19743 tỉ người 19592 tỷ người 19271 tỷ người 1804Bảng thống kêNăm11000150016501750180418501900192719501960197419801987199920112020202320302037204620572100Dân số0,20,2750,450,50,711,21,622,55344,55677,888,599,51010,9Dân số thế giới theo khu vựcKhu vựcDân sốThay đổi%thay đổiMật độP/Km²Diện tích Km²Di cưTỷ lệsinhTuổitrung bình% dânthành thị%thế giới1Châu Latinh & Đại độ dân số trên thế giớiBản đồ mật độ dân số trên thế giới cho thấy không chỉ các nước mà còn nhiều phân khu vùng, bang, tỉnh. Dân số thế giới theo tôn giáoTheo một nghiên cứu gần đây dựa trên dân số thế giới năm 2010 là 6,9 tỷ từ Diễn đàn Pew, có người theo Kitô giáo 31% dân số thế giới, trong đó 50% là Công giáo, 37% Tin lành, 12% Chính thống, và 1% người theo Hồi giáo 23%, trong đó 87-90% là Sunnis, 10-13% người không liên quan đến tôn giáo 16% người không tin trời hay chúa và những người không đồng nhất với bất kỳ tôn giáo người theo đạo Hindu 15%, phần lớn 94% sống ở Ấn người theo Phật giáo 7%, trong đó một nửa sống ở Trung người theo các Tôn giáo dân gian 6% các tín ngưỡng có liên quan chặt chẽ với một nhóm người, dân tộc hoặc bộ lạc cụ người theo các tôn giáo khác 1% đức tin Baha'i, Đạo giáo, Jain, Shintoism, Sikhism, Tenrikyo, Wicca, Zoroastrianism và nhiều tôn giáo người theo Do Thái giáo bốn phần năm sống ở hai quốc gia Hoa Kỳ 41% và Israel 41%.Có bao nhiêu người đã từng sống trên trái đất?Giả sử rằng chúng ta bắt đầu đếm từ khoảng năm trước Công nguyên, từ thời những người Homo sapiens hiện đại xuất hiện trên trái đất chưa kể từ năm trước Công nguyên tổ tiên của người Homo sapiens đã xuất hiện, hoặc vài triệu năm trước khi có người Hominids, lưu ý rằng tất cả Dữ liệu dân số là một ước tính sơ bộ và giả sử một tốc độ tăng trưởng liên tục được áp dụng cho từng giai đoạn đến thời hiện đại, người ta ước tính có khoảng 106 tỷ người đã được sinh ra kể từ bình minh của loài người, dân số hiện đang sống chỉ chiếm khoảng 6% trong số tất cả những người đã từng sống trên Trái số nguồn khác ước tính số người đã từng sống từ 45 đến 125 tỷ người, trong đó hầu hết các ước tính rơi vào khoảng từ 90 đến 110 tỷ chúSố liệu Dân số trong bảng và biểu đồ dân số Dân số thế giới 1955 - 2020 qua các năm được lấy vào thời điểm ngày 1 tháng 7 của mỗi năm. Thời điểm mới nhất, nếu chưa đến ngày 1 tháng 7 thì đó là số liệu ước số liệu như Thay đổi, % thay đổi, di cư, tỷ lệ sinh,... trong hai bảng dân số là số liệu trung bình theo chu kỳ 5 liệu Tỷ lệ gia tăng dân số trong biểu đồ tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm là tỷ lệ phần trăm dân số tăng hàng năm dựa trên số liệu dân số vào ngày 1 tháng 7 của mỗi năm, từ năm 1951 đến năm 2020. Giá trị này có thể khác với % Thay đổi hàng năm thể hiện trong bảng dân số qua các năm, thể hiện tỷ lệ thay đổi trung bình mỗi năm trong 5 năm trước cư hay Di dân là sự thay đổi chỗ ở của các cá thể hay các nhóm người để tìm chỗ ở tốt hơn, phù hợp hơn nơi ở cũ để định cư từ quốc gia này đến quốc gia khác. Di cư bao gồm Nhập cư những người đến để định cư và Xuất cư những người rời khỏi để định cư ở một 'quốc gia' khác.Nguồn Số liệu trên được xây dựng dựa theo các số liệu và ước tính của Liên hợp quốc.
HÀ NỘI, ngày 1 tháng 10 năm 2021—Già hóa dân số có thể khiến tăng trưởng kinh tế Việt Nam chậm lại, làm tăng chi tiêu công và gia tăng áp lực đối với hệ thống cung cấp dịch vụ công nếu không có các cải cách kịp thời, theo một báo cáo mới của Ngân hàng Thế cáo “Việt Nam Thích ứng với Xã hội Già hóa” do Ngân hàng Thế giới và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA phối hợp thực hiện cho thấy so với các quốc gia đã từng trải qua tình trạng già hóa dân số như Việt Nam đang trải qua hiện nay, thì cả trình độ phát triển kinh tế lẫn thu nhập bình quân của Việt Nam đều thấp hơn. Viễn cảnh “chưa giàu đã già” có nghĩa là Việt Nam sẽ phải đối mặt với một loạt thách thức quan trọng mà để giải quyết sẽ không tránh khỏi những lựa chọn chính sách khó Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết “Việt Nam đã thành công trong việc tận dụng lực lượng lao động dồi dào để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ba thập kỷ qua. Giờ đây, cùng với quá trình già hóa dân số, Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng kỹ năng cho lực lượng lao động để thúc đẩy đổi mới và nâng cao năng suất nền kinh tế cũng như bắt đầu tiến hành cải cách lương hưu ngay từ bây giờ để duy trì sinh kế cho người cao tuổi trong những thập kỷ tới.”Với tỷ lệ sinh giảm và tuổi thọ tăng, người cao tuổi dự kiến sẽ chiếm từ 10%-20% dân số Việt Nam vào năm 2035. Tỷ lệ phụ thuộc tuổi già của Việt Nam, được tính bằng số người trên 65 tuổi chia cho số người trong độ tuổi lao động, ước tính sẽ tăng gấp đôi từ 0,11 năm 2019 lên 0,22 năm cáo cho thấy tốc độ tăng trưởng dài hạn trong giai đoạn 2020–2050 sẽ chậm lại 0,9 điểm phần trăm so với 15 năm qua khi Việt Nam chuyển dần sang cơ cấu dân số già. Bên cạnh đó, việc đáp ứng nhu cầu của một xã hội già hóa cũng được dự báo sẽ tiêu tốn thêm từ 1,4% đến 4,6% GDP. Việc mở rộng phạm vi bao phủ và cải thiện chất lượng dịch vụ tất yếu sẽ dẫn đến tăng chi phí tài cáo đưa ra khuyến nghị để Việt Nam có thể quản lý tình trạng già hóa dân số một cách hiệu quả, dựa trên bài học kinh nghiệm ở các quốc gia khác đã trải qua quá trình chuyển đổi nhân khẩu học tương tự, ví dụ như Nhật Bản. Các khuyến nghị này bao gồm những cải cách cần thiết để cải thiện sự tham gia của lực lượng lao động và nâng cao năng suất, tăng cường hiệu quả chi tiêu công và củng cố hệ thống cung cấp dịch vụ. Báo cáo cũng khuyến nghị các hành động chính sách trong bốn lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ xu hướng già hóa là thị trường lao động, lương hưu, y tế và chăm sóc người cao Shimizu Akira, Trưởng đại diện Văn phòng JICA Việt Nam cho biết “Kể từ khi trở thành quốc gia siêu già vào năm 1960, Nhật Bản đã trải qua nhiều hệ lụy khác nhau của quá trình già hóa, đặc biệt là những tác động liên quan đến việc điều chỉnh các chương trình bảo trợ xã hội và thúc đẩy chăm sóc tại cộng đồng. Đã có nhiều thành công nhưng cũng không ít kinh nghiệm cay đắng. Chúng tôi hy vọng những bài học chia sẻ này sẽ hữu ích để giúp Việt Nam không chỉ ứng phó được với tình trạng thay đổi nhân khẩu học mà còn thu được lợi ích từ đó”.Báo cáo được thực hiện trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa JICA và Ngân hàng Thế giới nhằm hỗ trợ các cơ quan hoạch định chính sách Việt Nam đưa ra các giải pháp chuẩn bị cho một xã hội già hóa.
Dân số thế giới đã chạm mốc 8 tỷ người hôm 15/11/2022, và trong tương lai sẽ tiếp tục tăng. Điều này liệu có gây ảnh hưởng đến sự nóng lên toàn cầu ? Đối với các chuyên gia, đòn bẩy duy nhất để hạn chế sự nóng lên toàn cầu là thay đổi lối sống của chúng ta. Vào tháng 11/2017, lúc diễn ra COP23, hơn nhà khoa học đã công bố một cảnh báo cho nhân loại » trên tạp chí Bioscience. Văn bản nhấn mạnh rằng sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng » là một trong những yếu tố chính gây ra các mối đe dọa về môi trường và xã hội » đối với loài năm sau, vào thời điểm COP27 đang diễn ra ở Sharm El-Sheikh, Liên Hiệp Quốc thông báo rằng dân số thế giới đã chạm mốc 8 tỷ người, tức là tăng thêm 1 tỷ người chỉ trong vòng 11 năm vậy là chỉ trong hơn 70 năm, dân số thế giới đã tăng gấp ba lần dân số thế giới hồi năm 1950 là 2,5 tỷ người. Theo các dự đoán, hành tinh chúng ta sẽ có khoảng 9,7 tỷ người vào năm 2050 và khoảng 10,4 tỷ người vào năm 2080, trước khi đà tăng dân số chững lại vào năm 2100. Những dự đoán này đủ để khơi lại cuộc tranh luận không có hồi kết giữa các chuyên gia về mối liên hệ giữa dân số gia tăng và suy thoái môi Véron, giám đốc danh dự tại Viện Nghiên cứu Nhân khẩu học Quốc gia INED của Pháp, nhắc lại rằng, cuộc tranh luận này không phải do các nhà nhân khẩu học khơi mào, mà là do các nhà sinh vật học và vật lý có thể phủ nhận rằng với 8 tỷ người sinh hoạt, xây nhà, di chuyển xung quanh Trái đất mà không phát thải khí nhà kính. Theo tính toán của các chuyên gia, dân số thế giới gia tăng khiến lượng khí thải nhà kính tăng 1,2% mỗi năm từ năm 2010 đến năm 2019. Tuy nhiên, mức tăng GDP thế giới cùng thời kỳ là 2,3% mỗi năm. Theo Valérie Golaz, giám đốc nghiên cứu tại INED, điều đó có nghĩa là tăng trưởng kinh tế nhanh hơn tăng trưởng dân ra, mọi thứ còn phụ thuộc vào cách sống của con người hiện tại và trong tương lai, tùy theo vùng. Theo thống kê, một người Mỹ thải ra trung bình 17 tấn khí CO2 mỗi năm, một người Ấn Độ 1,76 tấn và một người Ethiopia 0,19 tấn. Cần phải chú ý một điều là những quốc gia có dân số tăng mạnh nhất cũng là những quốc gia thải ra ít khí nhà kính nhất, đặc biệt là ở châu nhân khẩu học Gilles Pison, thuộc Viện Nghiên cứu Nhân khẩu học, nhận định rằng lượng khí thải gây ra sự nóng lên toàn cầu hiện nay là từ một thiểu số là những người sống ở các nước giàu. Điều đó có nghĩa là dân số gia tăng không đồng nghĩa với việc Trái đất nóng lên Jacques Véron giải thích rằng giải pháp duy nhất để tránh cho Trái đất nóng lên là điều chỉnh lối sống của các nước công nghiệp và bảo đảm rằng điều kiện sống được cải thiện ở các nước kém phát triển mà không làm bùng nổ lượng khí thải nhà kính. Không sinh con nhằm chống biến đổi khí hậu, như một số thanh niên Mỹ hay châu Âu vẫn làm, không phải là một giải pháp hữu hiệu đối với các nhà nhân khẩu học. Bà Valérie Golaz cảnh báo Đây không phải là một giải pháp. Nếu vì không có con mà mọi người đi du lịch hoặc tiêu dùng nhiều hơn thì hậu quả có thể còn tồi tệ hơn nữa. »Vì sao dân số thế giới sẽ ngừng tăng ?Như đã đề cập ở trên, dân số thế giới có thể sẽ ngừng tăng vào tầm năm 2100. Nhưng làm thế nào để lý giải hiện tượng này, khi từ xưa đến giờ dân số thế giới không ngừng tăng ?Đối với ông Pison, thực tế là dân số thế giới đạt đỉnh và chững lại vào cuối thế kỷ là hệ quả của các xu hướng đã được các chuyên gia dự đoán. Họ quan sát thấy rằng mặc dù dân số thế giới vẫn tiếp tục tăng, nhưng tốc độ giảm dần kể từ 60 năm nhân khẩu học, tỷ lệ sinh sản tương ứng với số lượng con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Tuy nhiên, tỷ lệ này đang giảm trên toàn thế giới. Ngày nay, phụ nữ châu Âu và Bắc Mỹ có trung bình 1,5 con mỗi người, so với 1,9 ở châu Á và 1,8 ở châu Mỹ Latinh. Ông Pison nói Ở châu Phi, nếu trung bình mỗi phụ nữ có hơn 4 người con, thì khả năng sinh sản cũng đang giảm ở đó. Việc hạn chế sinh nở ở châu Phi cũng đang trở nên phổ biến giống như những nơi khác, mặc dù tốc độ giảm ở đó không nhanh như những gì được quan sát thấy ở châu Mỹ Latinh hoặc châu Á khoảng 40 năm về trước. »Nếu như tỷ lệ sinh đẻ giảm mạnh đã được quan sát thấy ở một số nước phát triển, thì theo Liên Hiệp Quốc, sự gia tăng dân số dự kiến trong những thập kỷ tới sẽ tập trung hơn một nửa ở 8 quốc gia, bao gồm 5 nước châu Phi và 3 nước châu Á Cộng hòa Dân chủ Congo, Ai Cập, Ethiopia, Nigeria, Tanzania, Pakistan, Ấn Độ và số thế giới đang già điMột lý do nữa khiến dân số thế giới ngừng tăng là độ tuổi trung bình của dân số Trái đất đang tăng dần. Theo dữ liệu của Liên Hiệp Quốc, trong khi số lượng người dưới 25 tuổi đã giảm kể từ những năm 1960, thì những người trên 65 tuổi sẽ tăng mạnh cho đến năm 2060. Do đó, tuổi trung bình của dân số châu Âu sẽ tăng từ 41 tuổi như hiện nay lên thành 49 tuổi vào năm độ già hóa của các quốc gia ở châu Á và châu Mỹ Latinh được dự đoán sẽ diễn ra nhanh hơn. Độ tuổi trung bình của người dân ở các nước đó, khoảng 25 tuổi vào đầu những năm 2000, theo dự báo sẽ tăng lên 47 tuổi vào cuối thế kỷ này. Người dân các nước châu Phi vẫn còn tương đối trẻ. Độ tuổi trung bình ở các nước đó hiện nay là khoảng 19 tuổi, thì dự kiến sẽ là khoảng 35 tuổi vào năm đổi lối sống để gìn giữ tài nguyên trên trái đấtKhi được hỏi liệu Trái đất có đủ tài nguyên để nuôi sống một lượng dân số ngày càng tăng hay không, nhà kinh tế học Alban Thomas thuộc viện Nghiên cứu Nông nghiệp Pháp INRAE đã nhận định rằng Trái đất có thể nuôi sống 9 hoặc 10 tỷ người. Vấn đề là tài nguyên thiên nhiên hiện không được phân bổ đồng đều. Cách sinh hoạt như hiện nay, việc con người ăn nhiều sản phẩm từ thịt có tác động rất lớn đến môi trường. Nếu cứ tiếp diễn, tài nguyên sẽ sớm cạn kiệt, vì vậy con người phải nhanh chóng thay đổi cách sinh hoạt như tôn trọng và bảo vệ môi trường, thay đổi cách tiêu thụ thực phẩm...Nguồn Franceinfo, La Croix, L’Obs
Câu hỏi Việc dân số thế giới tăng nhanh đã?A. Thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tếB. Làm cho tài nguyên suy giảm và ô nhiễm môi trườngC. Thúc đẩy gió dục và y tế phát triểnD. Làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng tăngĐáp án đúng dân số thế giới tăng nhanh đã làm cho tài nguyên suy giảm và ô nhiễm môi giải việc chọn đáp án đúng B là doDân số là tổng số dân sống của một nước. Quy mô dân số bị quy định bởi tỷ suất sinh, tỉ suất tử và sự di cư trong quá khứ và hiện tại. Trong các nền kinh tế cổ truyền, dân số ổn định mặc dù tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ tử cũng cao và không có các luồng di cư lớn. Khi các nước bước vào giai đoạn phát triển tốt hơn thì mức sống tăng nhanh, điều kiện sinh hoạt, y tế cũng phát triển dẫn tới tỷ suất tử giảm và dân số tăng nhanh. Đây là hiện tượng bùng nổ dân bùng nổ dân số có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng và mức sống. Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn có thể làm giảm, thậm chí loại trừ tác động tiêu số tăng quá nhanh và phân bố dân cư không hợp lí dẫn tới hậu quả– Suy giảm chất lượng môi trường sống suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường môi trường đất, nước, không khí,…– Suy giảm chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần của từng cá nhân, hộ gia đình,… dẫn tới suy giảm kinh tế của cả quốc gia và thế giới.
Dân số giảm kéo theo lực lượng lao động và thị trường tiêu dùng của Trung Quốc co lại, khiến nền kinh tế này càng khó vượt Mỹ. Số liệu giới chức Trung Quốc công bố hôm 17/1 cho thấy dân số nước này năm 2022 lần đầu đi xuống kể từ năm 1961. Theo đó, con số này giảm xuống 1,4 tỷ người. Tốc độ giảm mạnh hơn dự báo đánh dấu bước ngoặt với nước này, có khả năng tác động lớn đến nền kinh tế và vai trò công xưởng thế giới của mốc về dân số xảy ra khi Trung Quốc vẫn là nền kinh tế đang phát triển, có thu nhập trung bình. Các nhà kinh tế học cho rằng mục tiêu của giới chức Trung Quốc – vượt Mỹ thành nền kinh tế lớn nhất thế giới – giờ sẽ càng khó khăn hơn khi dân số giảm."Khả năng Trung Quốc vượt Mỹ giờ đã giảm một bậc", Roland Rajah – kinh tế trưởng tại Viện nghiên cứu Lowy Australia nhận định trên Wall Street tế toàn cầu đang ngày càng dựa vào lực lượng lao động nhà máy đông đảo của Trung Quốc để sản xuất hàng hóa. Người tiêu dùng nước này cũng là thị trường đang lên cho các hãng xe và hàng thời trang xa xỉ phương Tây. Vì thế, việc dân số suy giảm đồng nghĩa số người tiêu dùng giảm đi, đúng thời điểm Trung Quốc chịu sức ép thúc đẩy tăng trưởng bằng tiêu dùng, thay vì đầu tư và xuất khẩu. Người dân tại phố đi bộ ở Thượng Hải Trung Quốc tháng 5/2021. Ảnh Reuters Khả năng hồi phục tiêu dùng cũng sẽ chịu sức ép bởi thị trường lao động yếu và giá nhà giảm – kéo theo tài sản của các gia đình Trung Quốc giảm. Tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm 16-24 vẫn cao, với 16,7% trong tháng 12. Tăng trưởng thu nhập khả dụng có thể chậm lại, còn 4% mỗi năm trong 5 năm tới, giảm từ 8% trước đại dịch, theo David Wang – kinh tế trưởng tại Credit Suisse cho Quốc gần đây đã rút lại hàng loạt chính sách chống dịch ngặt nghèo vốn kìm hãm tăng trưởng năm 2022, để mở đường cho phục hồi kinh tế năm nay. Bước ngoặt này là một phần trong kế hoạch thúc đẩy nền kinh tế, trong đó có nới lỏng quy định về bất động sản và công Kinh đặt cược hoạt động kinh tế hồi phục mạnh khi giới chức ngày càng phát đi nhiều tín hiệu rằng tỷ lệ lây nhiễm đã đạt đỉnh. Một số cố vấn của chính phủ Trung Quốc cho rằng giới chức nhiều khả năng công bố mục tiêu tăng trưởng 5-5,5% cho năm 2023, tương đương năm ngoái. Hôm 17/1, Trung Quốc công bố GDP năm 2022 tăng 3% - mức tệ thứ nhì kể từ năm biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF đang diễn ra tại Davos Thụy Sĩ, Phó thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc đã gửi thông điệp trấn an đến các nhà đầu tư và lãnh đạo doanh nghiệp. Ông cho biết tăng trưởng của Trung Quốc sẽ quay về mức tiền đại dịch trong năm nay, khi nước này mở cửa trở một phiên thảo luận tại Davos với chủ đề "Chương tiếp theo của Trung Quốc", các diễn giả đều tỏ ra lạc quan. Lãnh đạo Sở giao dịch chứng khoán Hong Kong Nicolas Aguzin cho biết việc Trung Quốc đại lục mở cửa và bỏ chính sách Zero Covid là "chất xúc tác tích cực nhất" với các thị trường toàn cầu năm nay."Nếu Trung Quốc tăng trưởng ổn định trong năm 2023, khoảng 5% hoặc hơn, tăng trưởng toàn cầu sẽ được củng cố đáng kể", Kevin Rudd – CEO Asia Society cho nhiên, các biện pháp của Trung Quốc sẽ gặp phải hàng loạt thách thức. Đó là dân số già nhanh, năng suất giảm, mức nợ cao và bất bình đẳng xã hội tăng. Các nhà kinh tế học cho rằng những vấn đề này sẽ gây sức ép lên kinh tế Trung Quốc nhiều thập kỷ tới. Trong đó, dân số giảm có thể còn đe dọa kinh tế nhiều hơn là tăng trưởng nền kinh tế có thể tăng trưởng nếu có thêm lao động, hoặc năng suất lao động tăng. Tuy nhiên, lực lượng lao động của Trung Quốc – đã đạt đỉnh từ năm 2014 – và được dự báo giảm 0,2% mỗi năm cho đến 2030, theo báo cáo của S&P Global trưởng năng suất cũng đang chậm lại. Tốc độ này đạt trung bình 1,3% giai đoạn 2009 – 2019, giảm so với 2,7% thập kỷ trước đó, theo ước tính của tổ chức nghiên cứu Conference Board. "Trung Quốc có vẻ sẽ già trước khi giàu", Andrew Harris – nhà kinh tế tại Fathom Consulting nhận vậy, các nhà kinh tế học cho rằng vẫn có lý do để lạc quan. Trung Quốc có thể tận dụng tốt hơn nguồn lao động thành thị, đang làm việc dưới khả năng trong các doanh nghiệp nhà nước, cũng như các lao động ở nông cũng có thể bổ sung công nghệ, tự động hóa vào các nhà máy, để thay thế hoặc hỗ trợ lực lượng lao động đang co lại. Các tiến bộ về robot, trí tuệ nhân tạo và các lĩnh vực công nghệ cao khác có thể kéo năng suất lên đáng kể, Harris cho biết. Dù vậy, ông nói rằng không dám chắc các biện pháp này sẽ thành Quốc vẫn đang sử dụng công thức tăng trưởng cũ, là khuyến khích các địa phương và doanh nghiệp đi vay để đầu tư. Các nhà kinh tế học đã cảnh báo mô hình này không bền vững trong dài lệ nợ trên GDP của Trung Quốc đã lên cao trong đại dịch, do các chính quyền địa phương đi vay để cấp vốn dự án cơ sở hạ tầng và thúc đẩy kinh tế. Tính đến tháng 6/2022, tín dụng cho lĩnh vực phi tài chính đạt tỷ USD, tương đương gần 300% GDP, theo dữ liệu từ Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS.Các chính sách của Trung Quốc trong đại dịch tập trung vào khía cạnh nguồn cung hơn là nhu cầu của nền kinh tế. Không như nhiều nước phương Tây, chính phủ Trung Quốc không hỗ trợ tiền cho các hộ gia đình. Phần lớn nỗ lực hỗ trợ là cho các hãng sản xuất."Các vấn đề hệ thống mà Trung Quốc gặp phải trước Covid-19 giờ vẫn tồn tại", George Magnus – nhà kinh tế học tại Đại học Oxford cho biết, "Một số còn trầm trọng hơn do đại dịch".Dù một số diễn giả tại Davos tỏ ra lạc quan, nhà đầu tư và lãnh đạo doanh nghiệp trong và ngoài Trung Quốc vẫn lo lắng về sự sẵn sàng của Bắc Kinh trong việc mạnh tay gỡ bỏ hạn chế với doanh nghiệp tư nhân. Phó thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc đã trấn an lo ngại này tại Davos. Ông khẳng định họ sẽ không quay về nền kinh tế kế Quốc cũng đang tìm cách tự chủ trong nhiều lĩnh vực chủ chốt. Nước này tập trung cấp vốn vay giá rẻ cho các ngành được ưu tiên, như chất bán dẫn, năng lượng tái tạo và dược phẩm. Dù vậy, các nhà kinh tế cho rằng các khoản chi này thường dành cho doanh nghiệp quốc doanh có hiệu suất làm việc thấp, khiến đột phá thực sự bị hạn Thu theo WSJ